Trang chủ Phật Giáo Top 10 ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ( phần 1)

Top 10 ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ( phần 1)

0
270

Tại Việt Nam, đạo Phật là tín ngưỡng tôn giáo có nhiều tín đồ nhất. Vì vậy trải dài đất nước hình chữ S có rất nhiều ngôi chùa với kiến trúc và quy mô lớn nhỏ khách nhau. Hãy cùng truyennhanqua.com điểm qua Top 10 ngôi chùa lớn nhất Việt Nam.

1. Chùa Bái Đính (Ninh Bình)

Quần thể chùa Bái Đính được xây dựng từ năm 2003, có diện tích được xác lập là rộng nhất Việt Nam với 539ha, được bao bọc xung quanh là những vòng cung núi đá vôi kỳ vĩ.

Với kiến trúc đồ sộ, nguy nga, lộng lẫy, những pho tượng có nét uy nghi, bao dung, nghệ thuật chạm khắc, đúc đồng tinh tế, tài tình cùng cảnh quan hùng vĩ, núi gối đầu sông, mây vờn đỉnh núi, không gian tâm linh thanh tịnh bao trùm khiến mỗi khi bước chân đến đây, người người thư thái, lòng sáng, tâm tịnh, hướng đến Chân –  Thiện – Mỹ.

Bái Đính nhìn từ trên cao

Bái Đính nhìn từ trên cao, Ảnh: Võ Rin

Đặt chân đến Bái Đính, ta có thể chiêm ngưỡng ngay trước mắt Tam Quan hoành tráng cao gần 17 mét. Đây chính là ranh giới giữa cõi thiêng và cõi tục. Chỉ cần bước chân qua Tam Quan, người ta có thể hòa mình vào không gian tâm linh thanh tịnh. Tiếp đó là chuông đồng nặng 36 tấn, được treo trên tháp cao với tiếng ngân vang vọng, lan tỏa khắp nơi, xua tan mọi nỗi thống khổ, cảnh tỉnh chúng sinh. Hành lang dài gần 2km với 500 vị La Hán, là con đường đưa ta đến gần với cõi Phật.

Điện Quan Âm gồm 7 gian với gian giữa của điện đặt tư¬ợng Quan Thế Âm Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt để thể hiện sự bao quát cứu vớt và phổ độ chúng sinh của Phật bà trên thế gian. Tượng Phật bà đúc bằng đồng nặng 100 tấn, cao 10m được công nhận là pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát bằng đồng lớn nhất ở Việt Nam.

Điện Pháp chủ là một công trình kiến trúc đồ sộ trong quần thể chùa Bái Đính, gồm 5 gian. Ở giữa Điện Pháp Chủ đặt pho tượng Phật Thích Ca Mầu Ni bằng đồng nguyên khối dát vàng cao 10m, nặng 100 tấn.

Chùa Bái Đính Điện Tam Thế

Điện Tam Thế. Ảnh: Trịnh Vũ Hiếu

Từ Điện Pháp chủ, du khách tiếp tục hành trình tới điện Tam Thế. Đây là công trình kiến trúc nguy nga và cũng là điện thời Phật lớn nhất nước ta hiện nay. Điện Tam Thế với 3 tầng mái cong và 12 mái ở 4 phía, cao 30m. Phía trong Điện là 3 pho tượng Tam Thế bằng đồng, được dát vàng, mỗi pho tượng nặng 50 tấn.

Chùa Bái Đính Tượng Phật Di Lặc

Tượng Phật Di Lặc. Ảnh: Lê Bích

An vị trên một ngọn đồi của chùa Bái Đính là tượng Phật Di Lặc nặng 80 tấn, cao 10m. Gần đó là Bảo Tháp 13 tầng, với 72 bậc leo. Đây là nơi đặt xá lợi Phật linh thiêng từ Ấn Độ và Miến Điện. Bảo tháp được thiết kế theo kiến trúc Ấn Độ huyền bí. Phía bên trong Bảo tháp là hệ thống phù điêu đá được trạm khắc sắc nét, cầu kỳ, mô phỏng lại các điểm tích trong cuộc đời Đức Phật.

Chùa Bái Đính Bảo tháp 13 tầng

Bảo tháp 13 tầng. Ảnh: Linh Linh

Một công trình kiến trúc đồ sộ, tinh tế được đặt giữa chốn bồng lai tiên cảnh. Nhìn từ xa, khu chùa Bái Đính như đang tựa mình bên sườn đồi xanh thẳm. Cảnh sắc lung linh huyền ảo cùng không gian thiêng rộng lớn đã đưa Bái Đính trở thành một bức tranh tâm linh vừa tuyệt mĩ, vừa cổ kính.

Xem thêm thông tin chùa : http://trangandanhthang.vn/

2. Chùa Côn Sơn (Hải Dương)

Chùa Côn Sơn nằm dưới chân núi Kỳ Lân, thuộc phường Cộng Hòa, thị xã Chí Linh,tỉnh Hải Dương. Chùa có tên chữ là Côn Sơn Thiên Tư Phúc tự, tục gọi là chùa Hun.Chùa có từ thế kỷ X, đến thế kỷ XIII, XIV (thời Trần), Thiền phái Trúc Lâm được thành lập, các vị tổ như Pháp Loa, Huyền Quang đã về Côn Trụ trì, thuyết pháp và cho mở rộng quy mô kiến trúc, dựng liêu Kỳ Lân cho các tăng ni tu hành. Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, ba vị tổ xác lập thiền phái này đã từng tu hành và thuyết pháp ở Côn Sơn. Vì thế, Chùa Côn Sơn trở thành một trong ba trung tâm nổi tiếng của dòng Phật giáo Trúc Lâm thời Trần:

” Côn Sơn, Yên Tử, Quỳnh Lâm
Nếu ai chưa đến thiền tâm chưa đành”.

Thiền sư Huyền Quang (1254-1334), đệ tam tổ thiền phái Trúc Lâm đã về trụ trì chùa Côn Sơn.Tại đây, ông đã tôn tạo mở rộng chùa Côn Sơn, với nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng như: Đài cửu phẩm liên hoa, am Bạch Vân… xây dựng tăng viện đào tạo tăng ni, giảng kinhthuyết pháp…đưa Côn Sơn thành đại già lam, đại tùng lâm.
Ngày 23 tháng giêng năm Khai Hựu thứ 6 (1334), sư tổ Huyền Quang viên tịch tại Côn
Sơn, đệ tử dựng tháp để xá lị ở sau chùa. Tháp có tên gọi là Đăng Minh bảo tháp. Vì thế,
Côn Sơn được gọi là chốn Phật tổ và hàng năm mở hội dâng hương vào trung tuần tháng
Giêng.
Theo văn bia tại chùa và các tư liệu lịch sử ghi chép thì vào thời Trần chùa Côn Sơn có
kiến trúc nội công ngoại quốc. Quy mô di tích khá lớn với đầy đủ các công trình kiến trúc đồ
sộ và hoành tráng từ Hồ Bán Nguyệt lên đến đỉnh núi Côn Sơn và núi Ngũ Nhạc như: Tiền
đường, Thiêu hương, Thượng điện, 2 dãy tiền hành lang, hậu hành lang, Cửu phẩm liên hoa,các toà tháp và Am Bạch Vân…

gác chuông chùa côn sơn

Thế kỷ XV, dưới ách chiếm đóng của giặc Minh, nhiều hạng mục kiến trúc, bi ký, tượng pháp chùa Côn Sơn đã bị tàn phá. Sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, nhà Lê đã
cho xây dựng lại chùa Côn Sơn và cử Nguyễn Trãi chức “Đề cử Côn Sơn tư phúc tự” trực
tiếp trông coi và quản lý, chùa Côn Sơn được phục hưng trở lại.
Dưới thời Lê (thế kỷ XVI, XVII, XVIII), Nhà nước phong kiến đặc biệt quan tâm hưng
công xây dựng chùa Côn Sơn, cử các vị Quốc sư về trụ trì. Trong thời gian này dưới sự trụ trì của sư Mai Trí Bản, Đỗ Công Triều, Hải Ấn, Bùi Trù… chùa Côn Sơn đã được trùng tu, xây
dựng lớn với nhiều hạng mục kiến trúc, trong đó có phục dựng lại tòa Cửu Phẩm Liên Hoa.
Bia Hoàng Định 15 (1614) ghi: “Việc hưng công sửa chữa chùa của nhà sư họ Mai được tổng kết gồm có toà Cửu phẩm liên hoa, nhà Thiêu hương, Tiền đường, hành lang trái phải đằng trước, hành lang trái phả đằng sau, tam quan, trùng tu thượng điện, cộng đến 83 gian, làm mới các chư phật trên cửu phẩm tới 385 vị, tạc mới tượng Quan Âm Bồ Tát thiên thủ thiên nhãn, 2 tượng hộ pháp thiện- ác, 1 tượng chủ núi, 3 tượng cô hồn, trùng tu tượng phật trên thượng điện là 18 vị sơn son, thếp lại 3 vị tam thế…”.

Sang thời Nguyễn (thế kỷ XIX, XX), chùa Côn Sơn còn khá tốt, cảnh quan chùa vẫn tươi đẹp. Tuy nhiên quy mô kiến trúc lớn thời Trần, thời Lê không còn. Ngày 15 tháng 2 năm 1965, Chủ tịnh Hồ Chí Minh về thăm Côn Sơn. Người đã căn dặn nhân dân Hải Dương hãy “Xây dựng Côn Sơn thành chốn tùng lâm đẹp của đất nước”.
Trải qua thăng trầm của lịch sử, ngày nay chùa Côn Sơn vẫn còn dấu ấn kiến trúc thế kỷ XIV, XVII, XVIII, XIX, vẫn tầng tầng lớp lớp theo lối cung đình: Hồ Bán Nguyệt, Tam quan, Gác chuông, phật điện, tòa Cửu phẩm liên hoa, tổ đường, hậu đường, tả hữu hành lang… Hệ thống tượng thờ khá phong phú, biểu hiện thế giới Phật giáo thu nhỏ với ý nghĩa triết lý nhân sinh, giáo dục hướng thiện khai tâm cho chúng sinh. Hiện chùa còn lưu giữ nhiều giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú: Hệ thống văn bia từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX.
Đặc biệt có tấm bia Thanh Hư động tạo thời Long Khánh (1372 – 1377), mang bút tích của
vua Trần Nghệ Tông; Tấm bia “Côn Sơn Tư Phúc tự bi” (1607), Bác Hồ đọc khi Người về
thăm Côn Sơn (15/2/1965); Ngói mũi hài, ngói tráng men hoa nâu, đầu đao đất nung và chân tảng hoa sen là di tích thời Trần… Ngoài ra, còn các bộ sách kinh phật, bộ cúng đàn Mông Sơn Thí Thực, bùa chú của Huyền Quang, hệ thống phả hệ dòng họ Nguyễn Trãi…

sân chùa côn sơn

Trải qua bao năm tháng chiến tranh, sự phá huỷ của thiên nhiên chùa Côn Sơn nhỏ bé
hơn rất nhiều so với hình bóng ngôi chùa xưa được ghi trong sử sách và bi kí. Nhưng không
vì thế mà chùa Côn Sơn và núi rừng nơi đây mất đi vẻ tôn kính thiêng liêng vốn có của nó.
Côn Sơn vẫn là nơi hấp dẫn bao tín đồ phật tử và du khách. Hơn nghìn năm tồn tại và phát
triển, các lớp người Việt ngày ngày hành hương về Côn Sơn chiêm bái Đức Phật, tưởng
niệm các bậc thánh nhân, anh hùng dân tộc… Với những giá trị văn hóa, lịch sử to lớn khu di tích lịch sử danh thắng Côn Sơn năm 1962, Côn Sơn được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia (theo quyết định QĐ 313 VH/QĐ ngày 28/4/1962). Năm 1992, khu di tích Côn Sơn được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử – văn hóa, danh thắng quan trọng quốc gia. Năm 2012, Khu di tích Côn Sơn được chính phủ phê duyệt là di tích quốc gia đặc biệt và lễ hội chùa Côn Sơn là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Côn Sơn đã trở thành vùng văn hoá lịch sử, nơi di dưỡng tinh thần của bao bậc hiền triết. Các tao nhân mặc khách và muôn vàn kẻ sĩ của mọi triều đại tìm để thực hiện cuộc sống tâm linh trong sự hoà hợp tột cùng của âm – dương, sơn – thuỷ và trời – đất. Chẳng những Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi …đã tìm về đây để sống đạo, hoằng dương phật pháp, mà còn có cả những vị vua cuối đời Trần như Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông và nhiều trí thức Trần – Lê khác dù đang phải gánh vác triều chính, thỉnh thoảng cũng lén về Côn Sơn để tu tâm dưỡng tính, tận hưởng không khí “bán nhật thâu nhàn ngã diệc tiên” (Trộm cái nhàn nửa ngày (ở Côn Sơn) ta cũng là tiên) theo cách nói của Nguyễn Phi Khanh. Ngày nay, các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước thường xuyên về Côn Sơn thắp hương, tri ân các bậc thánh nhân và lớp lớp người Việt Nam đến Côn Sơn là tìm về cõi thanh hư, để gần hơn với Phật tâm, nghe tiếng chuông mà tỉnh cơn mê nhập vào miền thánh thiện.

Xem thêm : http://consonkiepbac.org.vn/

3. Chùa Thiên Trù (Chùa Hương )

Trong tuyến hành trình Hương – Thiên,  thì Đền Trình – Thiên Trù – Hương Tích là 3 điểm dừng chân chính của bất kỳ du khách nào về với Chùa Hương. Sau khi làm lễ trình Sơn Thần ở Ngũ Nhạc Linh Từ (Đền Trình) du khách lại tiếp tục xuôi dòng Suối Yến cùng người lái đò để đi đến điểm dừng chân thứ hai là Thiên Trù.
Chùa Thiên Trù tọa lạc trên thềm núi Lão được xây dựng từ năm Đinh Hợi (1467) đời vua Lê Thánh Tông niên hiệu Quang Thuận thứ 8. Theo một số sử ký còn lưu lại có chuyện kể rằng: trong một chuyến tuần thú phương Nam lần thứ hai, Vua Lê Thánh Tông cùng tướng sĩ qua vùng núi Hương Sơn nghỉ lại ở Thung Lũng núi Lão và cho quân lính thổi cơm ăn. Trong lúc thưởng ngoạn cảnh sắc thiên nhiên, Vua xem thiên văn thấy vùng này ở vào vị trí của sao Thiên Trù (Bếp Trời – một sao chủ về ăn uống), nên nhân đấy nhà Vua đặt tên cho thung lũng này là Thiên Trù. Sau lần đó, có 3 vị Hoà thượng (Tỷ Tổ Bồ Tát) tới đây dựng thảo am để tu hành và đặt tên là Thiên Trù Tự (chùa Thiên Trù). Nhưng sau 3 vị Hoà thượng này, việc trụ trì ở Chùa Thiên Trù bị gián đoạn nhiều năm.

chùa thiên trù

Chùa Thiên Trù (Ảnh: HuyBui)

Đến niên hiệu Chính Hoà năm thứ 7 (1686) đời Vua Lê Trung Hưng, Hoà thượng Vân Thuỷ Thiền Thiên Trần Đạo Viên Quang được Vua phong Thượng lâm viện Viên Giác Tôn Giả Ty Tăng Lục (thời Lê, Ty Tăng Lục được lập ra để chăm sóc, cai quản các vị tu hành) tới đây tái lập đạo Phật, phát triển Phật giáo và cùng hương dân nơi đây xây dựng lại ngôi Tam Bảo, trùng hưng Thiên Trù Tự.Tiếp sau Hoà thượng Trần Đạo Viên Quang việc trụ trì và phát triển Phật giáo ở đây lại gián đoạn một lần nữa. Phải đến 20 năm sau, tức vào năm 1707, có Đại sư Thông Lâm tới trụ trì và tiếp tục cùng hương dân thôn Yến Vĩ xây dựng Chùa Thiên Trù thành ngôi Tam Bảo lợp bằng lá 5 gian và 6 gian tả, hữu vu để thờ Phật và tu hành. Kế thừa Đại sư Thông Lâm là Hoà thượng Thanh Quyết trụ trì. Với sự giúp đỡ của các tín đồ, phật tử, thiện tín muôn phương, chính điện chùa Thiên Trù được khởi công xây dựng vào năm Mậu Thân niên hiệu Duy Tân thứ 2. Sang đời trụ trì của Đại sư Thanh Tích công việc xây dựng kiến thiết vẫn được tiếp tục triển khai và kéo dài gần 10 năm, để rồi Thiên Trù trở thành một lâu đài nguy nga tráng lệ giữa núi rừng Hương Sơn, hiện lên như một kiến trúc nghệ thuật độc đáo.

Chùa Thiên Trù được xây dựng trên một mảnh đất hình chữ nhật chạy dài suốt từ sân dốc cho tới bức tường ngăn giữa khoảng đất bằng phẳng và núi Sau Chùa. Kiểu kiến trúc của Thiên Trù có tên là “Ngũ môn tam cấp” – tức năm cửa ba bậc. Qua cổng là đến sân. Hai bên sân là hai dãy nhà tranh làm nơi ăn nghỉ cho du khách trong ngày hội. Qua sân là đến bảo thềm thứ nhất – đây cũng là một cái sân. Trước bảo thềm này có đặt một đỉnh đồng cao 3m dùng để khói nhang. Qua sân bảo thềm thứ nhất là đến bảo thềm thứ hai – là một cái sân cao hơn. Hai bên sân bảo thềm thứ hai là những gian nhà cầu cho khách ngủ trọ. Tiến đến sân bảo thềm thứ ba cao hơn một chút, qua hai cửa tam quan nối vào Tam Bảo chính là nơi thờ Phật. Hai bên Tam Quan là gác trống bên trái và gác chuông bên phải. Hai bên Tam Bảo là hai bể nước, các buồng sư, buồng cung văn, nhà dấu, nhà oản,…vv. Phía sau Tam Bảo là điện Thánh Mẫu bên trái, gác tàng thư, nhà Tổ ở giữa và Thiên Thuỷ tháp bên phải.

toàn cảnh chùa thiên trù
Chùa Thiên Trù (hình ảnh toàn cảnh)
Có thể nói Chùa Thiên Trù là một công trình kiến trúc văn hóa nghệ thuật Lê -Nguyễn. Sự bố cục rất hài hòa:tam bảo, tiền đường, nhà thờ tổ, nhà thờ mẫu, nhà khách, các nhà kho…có đủ phương tiện sinh hoạt cho hàng trăm người nghỉ lại lễ Phật qua đêm. Đây là một ngôi chùa nổi tiếng thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX.Tuy nhiên, trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954) giặc Pháp đã đánh và ném bom ra vùng đất Hương Sơn 3 lần (1947, 1948 và 1950). Ngày 11 tháng 2 năm 1947 (tức năm Đinh Hợi) Tam Bảo và một số công trình đã bị giặc Pháp tàn phá. Trong suốt 15 ngày, Chùa Thiên Trù bị lửa thiêu không sao dập tắt nổi. Đến năm 1950, lại một lần nữa giặc Pháp cho máy bay ném bom tàn phá toàn bộ các công trình, chỉ còn lại vườn Tháp là không bị tàn phá nặng nề. Sang năm 1951 (tức năm Tân Mão), Hoà thượng Thanh Chân đã cho dựng lên từ đống tro tàn đổ nát 6 gian nhà tranh để có nơi tu hành và nhang khói.

Sau khi hoà bình lập lại trên đất Bắc, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với sự đóng góp công đức của thập phương, Hoà thượng Thích Thanh Chân cùng chính quyền và nhân dân địa phương đã khởi dựng 7 gian nhà khách khang trang vào năm Mậu Tuất (1958), tạm thời làm nơi thờ Phật và để thập phương về Lễ hội dâng hương, từng bước xóa dọn vết tích chiến tranh.

Từ năm 1984 đến 1985, Ty Văn hoá – Thông tin Hà Sơn Bình (nay là Sở Văn hoá – Thông tin tỉnh Hà Tây) đã cùng nhà chùa tranh thủ sự ủng hộ của du khách thập phương, xây dựng lại gác chuông 8 mái theo kiểu chùa Ngăm ở giữa sân Thiên Trù. Đặc biệt, kể từ năm 1989 Ban xây dựng chùa Hương đã được thành lập do Hoà thượng Thích Viên Thành làm Trưởng ban. Kể từ đây, Ban xây dựng Chùa Hương đã vận động nhân dân, phật tử thập phương cùng sự chỉ đạo của ngành văn hoá tỉnh đã khởi công xây dựng toà Tam Bảo (ngày 18 tháng 3 năm 1989, và đến ngày 11 tháng Giêng năm 1991 thì được khánh thành.

Năm 1992 Ban xây dựng khởi công xây dựng điện Hương Thuỷ và khánh thành vào ngày 11 tháng Giêng cùng năm. Điện Hương Thuỷ là nơi thờ tượng Mẫu Liễu Hạnh – người được mệnh danh là Mẫu nghi thiên hạ. Đây là công trình mang phong cách dân gian của nhà điêu khắc Trần Tuy. Năm 1993, Tổ đường và Bảo điện phía sau Tam Bảo được xây dựng và khánh thành vào ngày 11 tháng Giêng năm Quý Dậu (1993). Cùng năm này, động Vân Thuỷ Thiền Thiên nằm phía trên Thiên Thuỷ Tháp, nơi thờ Thượng ngàn chúa tể cũng được khai mở khánh thành. Năm 1994, cổng Nam Thiên Môn cũng được hoàn thành vào đúng ngày  11 tháng Giêng, đứng sừng sững giữa núi rừng Hương Sơn.

Trải qua hai thập niên qua, Chùa Thiên Trù luôn được tô điểm thêm những nét vẽ cho bức tranh thiên nhiên hùng tráng bằng những công trình kiến trúc đặc sắc. Được như vậy là nhờ công đức to lớn của tín đồ, du khách thập phương, của nhân dân sở tại và đặc biệt là sự cố gắng chăm lo vun đắp của cố Thượng toạ Thích Viên Thành và Đại đức Thích Minh Hiền – người đang giữ vị trí trụ trì Chùa Hương.

Hiện nay, với quần thể kiến trúc nguy nga, hoành tráng, Thiên Trù trở thành trung tâm của thắng cảnh Hương Sơn.

4. Chùa Một Cột (Hà Nội)

Chùa Một Cột là một trong những ngôi chùa được coi là biểu trưng của tôn giáo Việt Nam.  Với lối kiến trúc vô cùng đặc sắc và độc đáo trong từng chi tiết. Nơi đây đã tạo nên một điểm thắng cảnh nổi tiếng cho du khách.

Lịch sử hình thành.

Mỗi một một danh lam tôn giáo đều có một lịch sử hình thành đặc trưng riêng. Chùa Một Cột cũng vậy, với lịch sử lâu đời và những sự kiện nổi bật gắn liền với tên tuổi. Nơi đây mang đậm nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống của Việt Nam.

Chùa Một Cột toạ lạc ở đâu?

Chùa Một Cột tọa lạc tại khu vực Đội Cấn, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội, Việt Nam. Vị trí của chùa nằm rất gần khu quần thể di tích Quảng trường Ba Đình và lăng Hồ Chủ Tịch.  Đây là một trong những khu vực nằm ở trung tâm của thành phố Hà Nội.

Kiến trúc của Chùa.

Chùa Một Cột còn có 4 tên gọi khác là chùa Mật, Diên Hựu Tự, Nhất Trụ Tháp và Liên Hoa  Đài. Chùa được khởi công xây dựng vào đời vua Lý Thái Tông vào tháng 10 năm 1049. Tiền thân của chùa Một Cột là một ngôi lầu Ngọc có tượng Phật Quan Âm đặt ở trong. Ngôi lầu này được đặt trên một chiếc cột đá ở giữa một chiếc hồ nhỏ. Đây là nơi Vua Lý Thái Tông thường đến cầu nguyện. Khi có hoàng tử nối dõi, ông cho xây thêm một ngôi chùa nhỏ cách  lầu Ngọc 10 mét về hướng Tây Nam. Và đặt tên cho cả quần thể kiến trúc này là Diên Hựu Tự. Hồ trồng hoa sen nơi đặt chùa Một Cột có tên là Hồ Linh Chiểu.Truyền thuyết kể rằng, Vua Lý Thái Tông nằm mơ thấy Phật Bà Quan Âm ngồi trên tòa sen.  Ông đã kể chuyện này cho nhà sư Thiền Tuệ và được khuyên xây dựng một ngôi chùa trên cột đá giống như tòa sen của Phật Bà Quan Âm. Sau khi xây dựng, Vua cho các nhà sư làm lễ cầu Phước quanh chùa và đặt tên là Diên Hựu Tự. Năm 1105, Vua Lý Nhân Tông cho dựng thêm tại sân 2 toà tháp lập sứ trắng. Đến nay, chùa được trùng tu 3 lần vào năm 1840- 1850, năm 1922 và năm 1955.

Kiến trúc chùa Một Cột

Kiến trúc của chùa Một Cột có nhiều nét tương đồng với thiết kế kiến trúc có từ lâu đời. Vào thời Đinh Tiên Hoàng và đời Vua Lê Thánh Tông đã từng có lối kiến trúc này. Chùa Một Cột gồm một đài Liên Hoa hình vuông có cạnh dài 3 m. Chùa được đặt trên một cột trụ cao 4 m,  có đường kính 1,2 m bằng chất liệu đá. Cột đá được sử dụng làm trụ chính nâng đỡ 3 khung giá gỗ. Mỗi khung giá gỗ tạo thành một tầng được ráp vào thân cột đá nhằm đỡ đài Liên Hoa. Tầng giá gỗ dưới cùng gồm các thanh gỗ lớn được đẽo cong tỏa ra xung quanh gắn vào khung đỡ tầng trên. Hai tầng khung gỗ trên chỉ gồm những thanh gỗ ngang được đặt so le nhau.Vật liệu chủ yếu được sử dụng trong kiến trúc chùa Một Cột là gỗ. Gỗ được sử dụng trong các chi tiết thiết kế cho các vách tường và cột xà. Chùa có mái ngói uốn cong ở 4 góc, chính giữa nóc là phù điêu lưỡng long chầu nguyệt. Đây là điểm nhấn thiết kế nổi bật của kiến trúc đền chùa cổ của Việt Nam.Hồ Linh Chiểu được thi công vào năm 1105 với hàng rào lan can được xây bằng gạch sành tráng men xanh. Hình tượng chùa Một Cột đặt ở giữa hồ giống như một bông sen vươn lên khỏi mặt nước. Đây là hình tượng kiến trúc vô cùng độc đáo đặc trưng của dân tộc Việt Nam. Từ khu vực sân khuôn viên dẫn lên chùa bằng một thiết kế cầu thang gạch ở mặt trước. Cầu thang được chia thành ba phần gấp khúc với một cánh cổng gỗ hoa văn cầu kỳ.

Thăm quan chùa Một Cột.

Ngoài thiết kế kiến trúc mang đậm nét truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam độc đáo. Chùa Một Cột còn gắn liền với nhiều sự tích và truyền thuyết nổi tiếng. Mỗi một chi tiết thiết kế đều mang lại nhiều khám phá thú vị cho khách tham quan khi ghé thăm.

Vãn cảnh phía trước chùa Một Cột.

Phía trước chùa Một Cột là thiết kế cổng Tam Quan đặc trưng cho kiến trúc tôn giáo cổ truyền Việt Nam. Với 3 lối vào có hình vòm cung gồm một lối lớn ở giữa và hai lối nhỏ ở hai bên. Thiết kế gồm có hai tầng, tầng dưới là cửa gỗ, tầng trên là các thiết kế mái ngói cong. Mỗi góc của mái ngói đều có tượng phù điêu đầu rồng vô cùng nổi bật.

Vãn cảnh các góc tham quan trong khuôn viên.

Bước qua cổng Tam Quan là thiết kế khuôn viên với sân gạch đỏ cùng những hàng rào lan can. Khuôn viên khá rộng gồm hai khu vực kiến trúc đặc trưng trong một tổng thể không gian. Đó là thiết kế chùa Diên Hựu cổ và thiết kế chùa Một Cột được đặt gần nhau. Phía trước sân là một gốc cây bồ đề cổ thụ có nhiều nhánh thân nhỏ. Đây là một trong những những điểm tham quan được khách du lịch rất quan tâm. Trong sân là 2 toà tháp với 2 tầng thiết kế, trước đây đều được lợp sứ trắng, hiện tại đã trùng tu bằng ngói đỏ.Giữa sân là một chiếc bàn đá có đặt tượng Phật Bà Quan Âm bằng sứ trắng. Tại đây có đặt một hòm công đức dành cho khách viếng thăm chùa. Hai cột đèn đá với những chi tiết trang trí tỉ mỉ đặt hai bên phảng phất nét kiến trúc Trung Hoa. Kiến trúc chùa Một Cột nối liền với sân khuôn viên bằng 1 thiết kế cầu thang gạch. Hai bên lan can cầu thang có những phù điêu hình hoa sen và hình thú đặc sắc. Phía trước cầu thang là một chiếc cổng gỗ khắc tạc  các hoa văn tỉ mỉ. Nối liền với cổng là một hàng rào lan can chạy quanh Hồ Linh Chiểu có hình vuông. Chiều dài mỗi cạnh hồ có thể đạt tới khoảng 20m.Nhìn từ bên ngoài, chùa Một Cột giống như một bông sen mọc lên giữa lòng hồ. Với một thiết kế cột trụ bằng đá lớn đặt chính giữa nâng đỡ gian chùa nhỏ. Liên kết giữa cột trụ và  chính điện là các khung gỗ tỏa ra như đài sen. Trong hồ có thả cá chép cảnh, vào mùa hè,  sen trong hồ sẽ nở rộ. Du khách có ý định muốn vào tham quan bên trong chùa cần ăn mặc chỉnh tề.  Đặc biệt, không nên ăn mặc trang phục quá ngắn, thiếu kín đáo hoặc bó sát.

Vãn cảnh bên trong chính điện

Đi qua thiết kế cầu thang gạch, khách tham quan sẽ tiến vào chính điện chùa Một Cột. Chùa chỉ có một gian duy nhất với một ban công bao quanh bằng gỗ. Vật liệu chủ yếu được sử dụng trong thiết kế chùa là gỗ. Gỗ có trong các cột trụ, khung nhà,  xà mái và lan can ban công. Thiết kế mái cong bằng ngói đỏ được trang trí với những những phù điêu hình thú tại các góc. Chính giữa mái là hình tượng ảnh lưỡng long chầu nguyệt vô cùng nổi bật.

Phật Bà Quan Âm bên trong Chùa Một Cột

Bước vào bên trong là một thiết kế bàn thờ đặt chính diện so với cửa vào. Bàn thờ gồm có hai tầng, một tầng sử dụng để đặt lễ vật dâng hương. Tầng trên cùng có đặt một bức tượng Phật Bà Quan Âm ngồi trên tòa sen rất uy nghi. Hình tượng này gắn liền với truyền thuyết  về nguồn gốc xây dựng quần thể kiến trúc chùa Diên Hựu.

Chùa Một Cột vào mùa lễ hội

Vào ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch năm 1049, sau khi hoàn thiện Diên Hựu Tự. Lê Thái Tông ông cho mời các nhà sư tổ chức lễ tắm Phật tại đây. Từ đó, vào ngày này hàng năm, người dân thành Thăng Long đều tổ chức lễ hội cầu phúc. Sau mỗi buổi lễ, mọi người đều tiến hành phóng sinh để thể hiện thành tâm. Chùa Một Cột bước vào mùa lễ hội tràn ngập những hoa đăng, cờ giấy và đèn lồng đỏ rực rỡ. Đặc biệt là vào dịp tết Nguyên Đán đầu năm, người dân từ khắp mọi miền đều đổ về đây dự lễ rước đèn, tâm sáng lên chùa, dâng nén hương nhang để cầu Phúc An cho một năm mới.

Một số kinh nghiệm du lịch và tham quan chùa Một Cột

Muốn tham quan chùa Một Cột bạn có thể lựa chọn rất nhiều phương tiện công cộng khác nhau. Trong đó, xe buýt là một trong những phương tiện hàng đầu được yêu thích với mức giá phải chăng. Một số hướng dẫn về các tuyến đường sử dụng phương tiện công cộng dành cho khách tham quan như sau:

  • Từ ga Long Biên đi theo đường Trần Nhật Duật tới điểm trung chuyển Long Biên. Tại đây, bạn hãy bắt tuyến xe buýt 22A đi từ bến xe Gia Lâm tới khu đô thị Trung Văn. Tiếp đến, hãy dừng ở điểm đỗ đối diện bệnh viện Xanh Pôn. Từ đây, chỉ cần đi bộ khoảng 700 m nữa bạn đã có thể vào tới chùa Một Cột.
  • Từ ga Hà Nội đi bộ khoảng 650m tới số 12A Điện Biên Phủ. Tại đây, bạn hãy bắt tuyến xe buýt 09 đi từ bờ Hồ tới bờ Hồ. Tiếp đến, hãy dừng ở số 18A Lê Hồng Phong, đi bộ khoảng 240 m nữa bạn có thể tới chùa Một Cột.
  • Từ ga Hà Nội đi bộ khoảng 500 m để tới chùa Quán Sứ. Tại đây, bạn hãy bắt tuyến xe buýt số 32 từ bến xe Giáp Bát đi Nhổn. Tiếp đến, hãy dừng ở đối diện bệnh viện Xanh Pôn, đi bộ khoảng 700 m nữa là tới chùa Một Cột.
  • Với khách du lịch di chuyển bằng phương tiện xe cá nhân từ bến xe Hà Nội. Hãy đi theo đường Trần Nhật Duật về phía Lý Thường Kiệt khoảng 550 m. Tới đây, hãy rẽ trái vào đường Điện Biên Phủ đi khoảng 750 m. Tới vòng xuyến, rẽ theo lối đi thứ 2 khoảng 350 m thì rẽ phải. Đi thêm khoảng 49 m nữa thì tới chùa Một Cột.

Những địa điểm du lịch tâm linh gần chùa Một Cột.

Sau khi ghé thăm chùa Một Cột, bạn cũng có thể tiện đường ghé qua một số điểm sau:

  • Đền Quán Thánh: Một ngôi Đền cổ linh thiêng thuộc Thăng Long Tứ Trấn, Đền Quán Thánh là một địa điểm rất gần với Chùa Một Cột chỉ cách đó khoảng 1km.
  • Đền Bạch Mã: cách Chùa Trấn Quốc khoảng hơn 2,5km về phía khu phố cổ Hà Nội. Đây là một trong Tứ Trấn Thành Thăng Long Xưa. Với những thiết kế đầu rồng và lư hương đá kỳ lân đặc sắc.
  • Đền Ngọc Sơn: Một danh lam thắng cảnh không thể bỏ lỡ khi đặt chân đến Hà Nội. Đền nằm trên một đảo nhỏ giữa Hồ Hoàn Kiếm.
  • Chùa Trấn Quốc: Chùa Phật giáo được xây trong thế kỷ 6 tọa lạc trên một hòn đảo nhỏ và thơ mộng có nhiều mộ tháp.

Ngoài ra còn có rất nhiều điểm tham quan thú vị khác dành cho các du khách khi ghé thăm chùa Một Cột. Không chỉ dễ dàng di chuyển tới các điểm tham quan lân cận bằng phương tiện giao thông công cộng hay phương tiện cá nhân. Mà các du khách còn có thể tận hưởng không gian truyền thống và đa dạng những trải nghiệm của bản thân khi tới Hà Nội.

5. Chùa Thiên Mụ (Thừa Thiên – Huế)

Huế vốn là nơi qui tụ nhiều di tích thắng cảnh, nhiều ngôi chùa cổ kính nổi tiếng của Việt Nam. Nhưng ngôi chùa xưa nhất có lẽ phải kể đến chùa Thiên Mụ- nơi có sự tích ra đời gắn liền với bước chân mở đường của vị chúa Nguyễn đầu tiên xứ Đàng Trong.

Truyền thuyết kể rằng, khi Nguyễn Hoàng vào làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa, ông đã đích thân đi xem xét địa thế ở đây nhằm chuẩn bị cho mưu đồ mở mang cơ nghiệp, xây dựng giang sơn cho dòng họ Nguyễn sau này. Trong một lần rong ruổi vó ngựa dọc bờ sông Hương ngược lên phía đầu nguồn, ông bắt gặp một ngọn đồi nhỏ nhô lên bên dòng nước trong xanh uốn khúc, thế đất như hình một con rồng đang quay đầu nhìn lại. Hỏi ra mới biết, ngọn đồi này có tên là đồi Hà Khê. Người dân địa phương cho biết, nơi đây ban đêm thường có một bà lão mặc áo đỏ quần lục xuất hiện trên đồi, nói với mọi người “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền long mạch, cho nước Nam hùng mạnh“. Vì thế, nơi đây còn được gọi là Thiên Mụ Sơn (núi Thiên Mụ). Tư tưởng lớn của chúa Nguyễn Hoàng dường như cùng bắt nhịp được với ý nguyện của dân chúng. Ông cho dựng một ngôi chùa trên đồi, ngoảnh mặt ra sông Hương, đặt tên là “Thiên Mụ Tự“ (chùa Thiên Mụ).

chùa thiên mụ huế

Trong thực tế, ở đây đã từng tồn tại một ngôi chùa của người Chàm – di tích được nhắc đến trong sách Ô châu cận lục của Dương Văn An vào năm 1553. Nhưng phải đến năm 1601 với quyết định của chúa Nguyễn Hoàng, chùa mới chính thức được xây dựng.

Theo đà phát triển và hưng thịnh của Phật giáo xứ Đàng Trong, chùa được xây dựng lại quy mô hơn dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725). Năm 1710, chúa cho đúc một chiếc chuông lớn có khắc một bài minh trên đó. Đến năm 1714, chúa lại cho đại trùng tu chùa với hàng chục công trình kiến trúc hết sức quy mô như điện Thiên Vương, điện Đại Hùng, nhà Thuyết Pháp, lầu Tàng Kinh, phòng Tăng, nhà Thiền… mà nhiều công trình trong số đó ngày nay không còn nữa. Ông còn đích thân viết bài văn bia nói về việc xây dựng các công trình kiến trúc ở đây, ca tụng triết lý của đạo Phật, ghi rõ sự tích Hòa thượng Thạch Liêm – người có công lớn trong việc giúp chúa Nguyễn chấn hưng Phật giáo ở Đàng Trong. Bia được đặt trên lưng một con rùa đá rất lớn, trang trí đơn sơ nhưng tuyệt đẹp.

Với quy mô được mở rộng và cảnh đẹp tự nhiên, ngay từ thời đó, chùa Thiên Mụ đã trở thành ngôi chùa đẹp nhất xứ Đàng Trong. Trải qua bao biến cố lịch sử, chùa Thiên Mụ đã từng được dùng làm đàn Tế Đất dưới triều Tây Sơn (khoảng năm 1788), rồi được trùng tu tái thiết nhiều lần dưới triều các vua nhà Nguyễn. Năm 1844, nhân dịp mừng lễ “bát thọ“ (mừng sinh nhật thứ tám mươi) của bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (vợ vua Gia Long, bà nội của vua Thiệu Trị), vua Thiệu Trị kiến trúc lại ngôi chùa một cách quy mô hơn: xây thêm tháp Từ Nhân (sau đổi là Phước Duyên), đình Hương Nguyện và dựng 2 tấm bia ghi chép thơ văn của nhà vua.

Tháp Phước Duyên là một biểu tượng nổi tiếng gắn liền với chùa Thiên Mụ. Tháp cao 21m, gồm bảy tầng, được xây dựng ở phía trước chùa. Mỗi tầng tháp đều có thờ tượng Phật. Bên trong có cầu thang hình xoắn ốc dẫn lên tầng trên cùng, nơi trước đây có thờ tượng Phật bằng vàng. Phía trước tháp là đình Hương Nguyện.

Chùa Thiên Mụ được xếp vào hai mươi thắng cảnh đất Thần Kinh với bài thơ “Thiên Mụ chung thanh” do đích thân vua Thiệu trị sáng tác và được ghi vào bia đá dựng gần cổng chùa. Năm 1862, dưới thời vua Tự Đức, để cầu mong có con nối dõi, nhà vua sợ chữ “Thiên“ phạm đến Trời nên cho đổi từ “Thiên Mụ” thành “Linh Mụ” (Bà mụ linh thiêng). Mãi đến năm 1869, vua mới cho dùng lại tên Thiên Mụ như trước. Bởi vậy trong dân gian, người ta vẫn dùng cả hai tên khi muốn nhắc đến chùa này.

chùa thiên mụ thừa thiên huế

Trận bão khủng khiếp năm 1904 đã tàn phá chùa nặng nề. Nhiều công trình bị hư hỏng, trong đó đình Hương Nguyện bị sụp đổ hoàn toàn. Qua nhiều đợt trùng tu lớn nhỏ, ngoài những công trình kiến trúc như tháp Phước Duyên, điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm… cùng bia đá, chuông đồng, chùa Thiên Mụ ngày nay còn là nơi có nhiều cổ vật quí giá không chỉ về mặt lịch sử mà còn cả về nghệ thuật. Những bức tượng Hộ Pháp, tượng Thập Vương, tượng Phật Di Lặc, tượng Tam Thế Phật… hay những hoành phi, câu đối ở đây đều ghi dấu những thời kỳ lịch sử vàng son của chùa Thiên Mụ.

Trong khuôn viên của chùa là cả một vườn hoa cỏ được chăm sóc vun trồng hàng ngày. Ở đó, hòn non bộ của vị tổ nghề hát tuồng Việt Nam Đào Tấn được đặt gần chiếc xe ô tô – di vật của cố Hòa thượng Thích Quảng Đức để lại trước khi châm lửa tự thiêu để phản đối chính sách đàn áp Phật giáo của chế độ Ngô Đình Diệm năm 1963. Cuối khu vườn là khu mộ tháp của cố Hòa thượng Thích Đôn Hậu, vị trụ trì nổi tiếng của chùa Thiên Mụ, người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho những hoạt động ích đạo giúp đời.

Tọa lạc bên bờ sông Hương thơ mộng của miền Trung, chùa Thiên Mụ với kiến trúc cổ kính đã góp phần điểm tô cho bức tranh thiên nhiên nơi đây càng thêm duyên dáng, thi vị. Tiếng chuông chùa như linh hồn của Huế, vang vọng mãi theo dòng nước sông Hương chảy qua trước Kinh Thành, xuôi về cửa biển, đọng lại trong lòng khách phương xa đến Huế một nỗi niềm vương vấn chốn Thiền Kinh.

Xem thêm: http://hueworldheritage.org.vn/

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây